Câu đối ở nhà thờ họ Giang

1. Hai câu đối trên cột đồng trụ:

1.1. Câu thứ nhất:

正 氣 文 章 成 砥 柱 ,
故 家 風 範 自 貞 岷 。
Chính khí văn chương thành chỉ trụ,
Cố gia phong phạm tự trinh dân.
(Chính khí văn chương tiêu biểu như cột trụ,
Khuôn phép nhà quan bắt đầu từ sự ngay thẳng.)

1.2. Câu thứ hai:

百 世 本 支 培 祉 福 ,
一 家 杼 軸 樹 風 聲 。
Bách thế bản chi bồi chỉ phúc,
Nhất gia trữ trục thụ phong thanh.
(Gốc cành trăm đời vun phúc lớn,
Rường cột một nhà nức tiếng thơm.)

2. Chín câu đối tại chính từ đường:

2.1. Câu thứ nhất:

禮 樂 傳 先 進 ,
衣 冠 自 故 家 。
Lễ nhạc truyền tiên tiến,
Y quan tự cố gia.
(Lễ nhạc truyền người giỏi,
Áo mũ bởi nhà quan.)

2.2. Câu thứ hai:

魁 科 事 業 存 奎 閣 ,
星 使 勳 名 重 斗 南 。
Khôi khoa sự nghiệp tồn Khuê Các,
Tinh sứ huân danh trọng Đẩu Nam.
(Sự nghiệp khoa trường còn lưu ở gác Khuê Văn,
Tiếng thơm đi sứ đáng trọng như sao Bắc đẩu chốn trời Nam. )

2.3. Câu thứ ba:

聲 蹟 同 垂 南 北 史 ,
精 神 長 在 子 孫 身 。
Thanh tích đồng thùy Nam Bắc sử,
Tinh thần trường tại tử tôn thân.
(Tiếng tăm cùng để lại trong sử sách phương Nam, phương Bắc;
Tinh thần mãi còn ở bản thân con cháu.)

2.4. Câu thứ bốn:

名 冑 出 名 科 , 佛 籙 至 今 傳 永 祚 ;
世 仁 培 世 福 , 儒 基 終 古 峙 圓 山 。
Danh trụ xuất danh khoa, Phật lục chí kim truyền Vĩnh Tộ;
Thế nhân bồi thế phúc, Nho cơ chung cổ trĩ Viên Sơn.
(Võ lược danh lừng, lại sản sinh văn tài khoa giáp, sách báu còn truyền từ đời Vĩnh Tộ đến nay;
Đạo nhân đời đời vun bồi quả phúc đời đời, nền nho vòi vọi như núi Tản Viên mãi tự ngàn xưa.)

2.5. Câu thứ năm:

不 亡 者 存 , 在 上 在 左 右 ;
有 秩斯 祜 , 于 宫 于 子 孫 。
Bất vong giả tồn, tại thượng tại tả hữu;
Hữu trật tư hỗ, vu cung vu tử tôn.
(Chẳng mất là còn, ở bên trên, bên trái bên phải;
Có chức tước là phúc, ở bản thân, ở con cháu.)

2.6. Câu thứ sáu:

禮 以 祀 其 先 也 ,
誠 然 後 能 饗 之 。
Lễ dĩ tự kì tiên dã,
Thành nhiên hậu năng hưởng chi.
(Lễ là để thờ phụng tổ tiên,
Thành kính mới có thể khiến anh linh dự hưởng.)

2.7. Câu thứ bảy:

播 引 翼 承 延 世 澤 ,
垣 墉 堂 構 賁 初 基 。
Bá dẫn dực thừa diên thế trạch,
Viên dung đường cấu bí sơ cơ.
([Đời trước] gieo trồng, [đời sau] nối tiếp, dài lâu ơn huệ đời đời;
Xây dựng từ đường, rực rỡ thêm nền móng ban đầu.)

2.8. Câu thứ tám:

肇 禋 迄 用 有 成 , 孝 思 惟 則 ;
世 德 克 昌 厥 後 , 福 履 永 綏 。
Triệu nhân ngật dụng hữu thành, hiếu tư duy tắc;
Thế đức khắc xương quyết hậu, phúc lí vĩnh tuy.
(Gây mối thờ tự tốt đẹp, lòng hiếu kính đó là khuôn phép;
Đức lớn cháu con thịnh vượng, phúc lộc dõi truyền.)

2.9. Câu thứ chín:

冠 紳 奕 世 詩 書 澤 ,
俎 豆 千 秋 黍 稷 香 。
Quan thân dịch thế Thi Thư trạch,
Trở đậu thiên thu thử tắc hương.
(Áo mũ nối đời nhờ công đọc sách,
Cúng tế ngàn thu, nếp gạo thơm tho.)

3. Tám đôi câu đối tại nhà tế đường:

3.1. Câu thứ nhất:

聚 族 於 斯 , 昭 其 昭 而 穆 其 穆 ;
自 古 在 昔 , 長 其 長 而 親 其 親 。
Tụ tộc ư tư, chiêu kì chiêu nhi mục kì mục;
Tự cổ tại tích, trưởng kì trưởng nhi thân kì thân.
(Chốn này họp họ, ngôi chiêu mục đều theo đúng lễ;
Dấu tích từ xưa, kính bậc trưởng gần gũi người thân.)

3.2. Câu thứ hai:

薦 而 進, 親 也 鷇、 行 也 趨 ;
祭 之 日, 僾 然 見、 肅 然 聞 。
Tiến nhi tiến, thân dã cấu, hành dã xúc;
Tế chi nhật, ái nhiên kiến, túc nhiên văn.
(Bước lên dâng lễ, gần thì kính cẩn, đi thì rảo bước;
Ngày tế lễ, phảng phất như trông thấy [bóng hình], nghiêm trang như nghe thấy [giọng nói] của tiên tổ.)

3.3. Câu thứ ba:

禮 從 朔 , 君 子 不 忘 所 由 也 ;
祭 如 在 , 至 誠 然 後 能 饗 之 。
Lễ tòng sóc, quân tử bất vong sở do dã;
Tế như tại, chí thành nhiên hậu năng hưởng chi.
(Lễ ngày mồng một, bậc quân tử chẳng quên nguồn gốc;
Cúng tế kính cẩn, lòng chí thành tiên tổ chứng minh.)

3.4. Câu thứ bốn:

親 族 樂 觀 熙 世 化 ,
敦倫 如 見 義 門 風 。
Thân tộc lạc quan hi thế hóa,
Đôn luân như kiến nghĩa môn phong.
(Gia tộc mừng trông giáo hóa tốt đẹp,
Vun bồi đạo đức, như thấy phong khí của gia đình hiếu nghĩa.)

4. Trở xuống là phụ lục:

4.1. Câu thứ nhất:

心 蘭 香 自 古 ,
朋 澤 秀 留 今 。
世 誼 金 轡 社 前 進 士 官 馮 族 拜 遞 。
Tâm lan hương tự cổ,
Bằng trạch tú lưu kim.
Thế nghị Kim Bí xã Tiền tiến sĩ quan Phùng tộc bái đệ.
(Tâm tựa nhành lan thơm nức từ xưa,
Tình bạn tốt đẹp truyền mãi đến nay.
Quan tiền tiến sĩ họ Phùng người xã Kim Bí kính tặng.)

4.2. Câu thứ hai:

禮 義 百 年 蒙 阜 邑 ,
風 聲 千 古 探 花 門 。
戊 戌 科 進 士 , 清 化 省 學 政 , 上 福 黎 希 永 恭 撰 。
Lễ nghĩa bách niên Mông Phụ ấp,
Phong thanh thiên cổ Thám hoa môn.
Mậu tuất khoa tiến sĩ, Thanh Hóa tỉnh Học chính, Thượng Phúc Lê Hi Vĩnh cung soạn.
(Ấp Mông Phụ trăm năm lễ nghĩa,
Cửa Thám hoa ngàn thuở tiếng thơm.
Tiến sĩ khoa Mậu tuất, giữ chức Học chính tỉnh Thanh Hóa là Lê Hi Vĩnh, người huyện Thượng Phúc kính soạn.)

4.3. Câu thứ ba:

氣 節 文 章 歸 信 史 ,
衣 冠 禮 樂 自 名 家 。
甲 辰 科 第 二 甲 進 士 , 翰 林 院 修 撰, 充 閣 , 雲 林 阮 慎 夫 恭 撰 。
Khí tiết văn chương quy tín sử,
Y quan lễ nhạc tự danh gia.
Giáp thìn khoa Đệ nhị giáp tiến sĩ, Hàn lâm viện Tu soạn, sung Các, Vân Lâm Nguyễn Thận Phu cung soạn.
(Khí tiết văn chương còn ghi trong sử sách quốc gia,
Áo mũ lễ nhạc bắt đầu từ gia đình danh giá.
Đệ nhị giáp tiến sĩ khoa Giáp thìn, giữ chức Hàn lâm viện Tu soạn, sung Nội các là Nguyễn Thận Phu, người xã Vân Lâm kính soạn.)

4.4. Câu thứ bốn:

武 始 文 承 , 三 百 年 由 積 而 大 ;
科 名 使 節 , 千 萬 古 不 亡 者 存 。
甲 辰 科 進 士 , 翰 林 院 編 修 , 慈 東 阮 希 成 恭 撰 。
Vũ thủy văn thừa, tam bách niên do tích nhi đại;
Khoa danh sứ tiết, thiên vạn cổ bất vong giả tồn.
Giáp thìn khoa tiến sĩ, Hàn lâm viên Biên tu, Từ Đông Nguyễn Hi Thành cung soạn.
(Võ trước văn sau, ba trăm năm bởi gom mà lớn;
Khoa danh sứ tiết, ngàn vạn năm chẳng mất là còn.
Tiến sĩ khoa Giáp thìn, giữ chức Hàn lâm viện Biên tu là Nguyễn Hi Thành người xã Từ Đông kính soạn.)

Các câu đối trên do anh Bùi Bá Quân sưu tập, phiên âm, dịch nghĩa và soạn trên văn bản điện tử